Đối với tôi học "đại học" thật sự là gì đó rất cao quý ngày còn nhỏ, tôi thật sự nghĩ tới nó như một bậc cấp mà mình phải chinh phục, vì từ cái tên gọi đã rất sướng tai.
Học mà phải học ở cấp độ đại - là học lớn đó
Nhưng ngày nay, dường như đối với tôi, đại học thật ra nên gọi ngược lại "học đại"

Tôi không nghĩ trải nghiệm đũng quần ở đại học của tôi suốt những năm tháng là cá biệt. Nhiều người trong thế hệ tôi lớn lên trong một bầu không khí mà "biết điều" quan trọng hơn "hiểu điều đúng", và "tránh va chạm" được tưởng nhầm là "trưởng thành". Ở đại học, điều đó được củng cố bởi những môn học mà mọi người đều ngầm hiểu rằng “nói sao cũng được miễn đừng nói thật”. Trong các nhóm học, việc chọn phe quan trọng hơn phản biện lẫn nhau; trong lớp học, sự im lặng đôi khi là cách duy nhất để bảo toàn điểm số và sự tồn tại.

Nhưng tôi nhận ra điều ấy không dừng ở đại học. Nó thấm vào cả đời sống cá nhân. Tôi thấy những người bạn xung quanh chia sẻ với nhau về tật xấu của mình – thói hay lười, trầm cảm nhẹ, sợ va chạm, nghiện trì hoãn, thiếu khả năng giao tiếp – như thể đó là những “thuộc tính cố định” không thể thay đổi. Như thể, sau bao năm bị tổn thương, họ chọn cách sống cùng những vết sẹo thay vì học cách lành lại. Cách họ kể chuyện về chính mình nhiều khi không phải là để hiểu mình hơn, mà là để được tha thứ, hợp thức hóa cái bất toàn của mình. Đó là một dạng tự kiểm duyệt cảm xúc – không phải vì sợ người khác, mà vì sợ nhìn sâu vào chính mình.

Nhưng, tôi sợ rằng nếu cứ thế, một thế hệ sẽ lớn lên mà không phát triển. Họ sẽ trở thành những người cha, người mẹ kể lại những điều mình chưa bao giờ chữa lành, rồi gọi đó là “cuộc đời”. Một giống nòi có thể vẫn tiếp tục – đi làm, lập gia đình, sinh con – nhưng nếu không có năng lực phản tư, thì sự tiếp nối đó chỉ là sự lặp lại, không phải sự phát triển. Tôi không muốn điều đó cho chính mình. Và tôi không muốn điều đó cho những người trẻ sau tôi.